Trung bình cộng (Arithmetic Mean) là cách tính trung bình phổ biến nhất bằng cách cộng tổng tất cả các giá trị và chia cho tổng số.
\[\text{Mean} = \frac{\text{Sum of all
values}}{\text{Number of all values}}\]
Ký hiệu cho trung bình của mẫu:
\[\bar x = \frac{1}{n}\sum_{i=1}^n x_i\]
Ký hiệu cho trung bình của quần thể:
\[\mu = \frac{1}{N}\sum_{i=1}^N x_i\]
Với \(\sum_{i=1}^n x_i\) là tổng tất cả giá trị của \(x_i\), \(N\) là tổng số lượng thành viên trong quần thể, \(n\) là tổng số lượng thành viên trong mẫu.
Trong R, ta có nhiều cách để thực hiện tính trung bình như sau:
Trong tình huống dữ liệu bị missing value và số lượng quan sát ở mỗi nhóm không đều nhau, ta có thể tính trung bình theo trọng số sẽ cho kết quả chính xác hơn là trung bình cộng.
Kết quả tính trung bình có trọng số này, cũng bằng với kết quả trung bình của toàn bộ vector Ozone sau khi loại bỏ đi missing value.
mean(airquality$Ozone, na.rm = T)
[1] 42.12931
Tùy cách ta định nghĩa trọng số mà kết quả tính trung bình sẽ khác một chút. Nếu ta tạo thêm cột “tỷ lệ quan sát mẫu tính theo mỗi tháng” và lấy cột đó làm sampling weight thì kết quả trung bình Ozone trong suốt thời gian theo dõi là:
Một cách tiếp cận khác, ta có thể imputation giá trị missing value bằng trung bình có trọng số này, rồi tính lại lần nữa giá trị trung bình. Cách gán giá trị này cũng đơn giản, bạn chỉ cần subset theo giá trị NA trong vector rồi gán kết quả vào. Lưu ý là trung bình cộng lúc sau cũng chính là trung bình lúc đầu của vector đó khi loại đi giá trị missing value.
Ví dụ:
x <-c(3, NA, 2, 3, NA, 5, 6, 7, 12)x
[1] 3 NA 2 3 NA 5 6 7 12
mean(x, na.rm = T)
[1] 5.428571
# imputation bằng giá trị mean của xx[is.na(x)] <-mean(x, na.rm = T)x
Trung bình có trọng số (Weighted Mean) để tính cho các tình huống mà trong dãy số liệu có những con số quan trọng hơn những con số khác. Về bản chất trung bình cộng (Arithmetic Mean) là trường hợp đặc biệt của trung bình có trọng số khi gán trọng số bằng 1 cho tất cả các con số (xem các giá trị có mức độ quan trọng ngang nhau).
Theo công thức này thì trung bình có trọng số được tính theo kiểu trung bình cộng (sau khi hiệu chỉnh theo trọng số) nên còn gọi là Weighted Arithmetic Mean (trung bình cộng theo trọng số), để phân biệt với các kiểu tính trung bình khác.
Ví dụ khảo sát chiều cao của 1000 bạn sinh viên, ta thu mẫu được 700 bạn nam, tính trung bình là 170 cm cho nhóm nam, và 300 bạn nữ, trung bình chiều cao là 160 cm cho nhóm nữ. Vậy chiều cao trung bình của sinh viên là bao nhiêu?
Trung bình cộng trong trường hợp này không chính xác vì số liệu bị lệch theo giới tính.
Trung bình có trọng số hiệu chỉnh lại giá trị chiều cao với thông tin từ “số lượng cỡ mẫu” theo nhóm thu thập được.
((700*170) + (300*160)) / (700+300)
[1] 167
weighted.mean(x =c(170, 160),w =c(700, 300))
[1] 167
Điều này có nghĩa là:
Vì nhóm nam chiếm tỷ lệ 70% (700 nam/1000 sinh viên) nên trung bình chiều cao của sinh viên (nam và nữ) là 167 cm, thì nhóm nam đóng góp 119 cm (0.7 × 170 = 119 cm) và nhóm nữ đóng góp phần còn lại là 48 cm (0.3 × 160 = 48 cm).
3 Geometric Mean
Geometric Mean (trung bình nhân hay trung bình hình học) là một loại trung bình được tính bằng cách lấy tích của các số rồi khai căn bậc n, với n là số lượng các số đó.
When studying phenomena such as inflation or population changes, which involve periodic increases or decreases (known as rates of change), the geometric mean is more appropriate to find the average change over the entire period under investigation.
Trung bình nhân đặc biệt hữu ích khi tính tốc độ tăng trưởng qua nhiều giai đoạn, tỷ suất sinh lời trung bình hoặc các đại lượng thay đổi theo tỷ lệ nhân.
Ví dụ: Ta có tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của 1 đàn ong, theo dõi trong 5 năm. Tốc độ tăng trưởng này thay đổi theo từng năm như sau: năm thứ 1 thì đàn ong tăng trưởng 14% số lượng, năm thứ 2 là 26%, năm thứ 3 là 16% (giảm tốc độ tăng trưởng), năm thứ 4 là -38% (tăng trưởng âm, giảm rất mạnh), năm thứ 5 là (-6%, có tích hiệu “tích cực” vì đã giảm bớt tăng trưởng âm, nhưng vẫn chưa gọi là tăng trưởng dương được). Ta biết đàn ong có 5000 ngàn con ở thời điểm khởi đầu (năm 1), hãy tính tốc độ tăng trưởng trung bình của quần thể ong, và số lượng con ong ở năm thứ 5.
We consider the annual growth rates of a swarm of honey bees over a 5-year period. These rates of change are: 14 %, 26 %, 16 %, -38 %, -6 %. Further, we know that at the beginning of the monitoring period there were 5,000 bees in the swarm. We are looking for the mean rate of population change.
Như vậy, tốc độ tăng trưởng hàng năm (annual growth rate) này bản chất là số lượng đàn ong năm sau trừ đi số lượng đàn ong năm trước tính theo tỷ lệ phần trăm.
bees <-c(14, 26, 16, -38, -6) # rate of change per yearbees
[1] 14 26 16 -38 -6
Nếu ta tính theo kiểu trung bình cộng cho “tốc độ tăng trưởng hàng năm” thì sẽ có kết quả là 2.4%. Kết quả này cho thấy đàn ong vẫn tăng trưởng (dù trải qua nhiều đợt suy thoái), với kết quả tăng trưởng trung bình mỗi năm là 2,4%. Tuy nhiên cách tính không phản ánh đúng thực tế.
mean(bees)
[1] 2.4
Đầu tiên, ta cần tính tỷ lệ tăng trưởng/suy thoái so với năm trước liền kề, bằng cách cộng thêm 1 (đại diện cho “số lượng của năm trước” cộng/trừ đi tỷ lệ tăng trưởng).
bees_growth_rel <-1+ (bees/100) # annual rates of growth/decline (percentage)bees_growth_rel
[1] 1.14 1.26 1.16 0.62 0.94
Tính trung bình nhân trong R
bees_len <-length(bees) # number of observationsbees_growth_geom <- (bees_growth_rel[1] * bees_growth_rel[2] * bees_growth_rel[3] * bees_growth_rel[4] * bees_growth_rel[5])^(1/ bees_len)# rounded resultbees_growth_geom
The geometric mean indicates that there is a decline in the number of species over time at an average rate of 0.994, which corresponds to -0.006 %
Ta có đàn ong này có tỷ lệ trung bình phát triển là 0.994, nghĩa là có 1 xu hướng giảm theo thời gian, với tỷ lệ giảm trung bình là 6%. Do đó dự đoán lượng đàn ong còn lại sau 5 năm là:
Harmonic Mean (trung bình điều hòa/hài hòa) là một loại trung bình được dùng để tính giá trị trung bình của các đại lượng dạng tỷ lệ, đặc biệt khi tính trung bình tốc độ, năng suất hoặc giá trên mỗi đơn vị, mật độ người trên diện tích.
The harmonic mean is best used when we want to average inverse metrics, such as speed (km/h) or population density (pop/km2).
Ví dụ: Ta có khoảng cách từ nhà đến cơ quan là 50 km, bạn lái xe lượt đi là 40 km/h, lượt về là 30 km/h (có thể lúc về bạn thong thả đi từ từ chẳng hạn)